View Full Version: CÁC BỆNH SINH LƯ CỦA LƯỠI

EMVATHO HOME > Y Khoa - Sức Khoẻ > CÁC BỆNH SINH LƯ CỦA LƯỠI


Title: CÁC BỆNH SINH LƯ CỦA LƯỠI


bút thế hệ - July 24, 2006 06:20 AM (GMT)

Những bệnh lư của lưỡi
Tác giả : BS. NGUYỄN ĐỨC TÙNG

Lưỡi là một cơ quan có nhiều cơ, được bao phủ bởi niêm mạc lưỡi, nằm ở nền miệng và ở phía trước hầu. Lưỡi có nhiệm vụ quan trọng trong việc nhai, nuốt, nói và nếm nên khi bị tổn thương thường làm bệnh nhân rất khó khăn trong việc ăn uống, ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và chất lượng sống. Các bệnh lư ở lưỡi có thể chỉ là những sang thương nhẹ tại chỗ, nhưng cũng có thể do một bệnh lư trầm trọng khác gây nên.
I. NGUYÊN NHÂN:
- Bất thường về giải phẫu làm lưỡi thay đổi h́nh dạng như to lên, dài ra hay bị nứt...
- Nhiễm trùng: Thường do virus, nấm hay vi khuẩn.
- Chấn thương: Thường gặp do tai nạn giao thông, đánh nhau, cắn phải lưỡi khi nhai hay do răng quá sắc...
- Suy giảm miễn dịch: HIV/AIDS hoặc dùng corticosteroid lâu ngày...
- Suy dinh dưỡng do chế độ ăn không hợp lư dẫn đến thiếu máu, thiếu sắt, thiếu vitamin B12 hay Folate...
- Ung thư: Thường gặp là dạng carcinoma tế bào vẩy, hiếm hơn là Lymphoma dạng Non-Hodgkin hay Kaposi’s sarcoma.
- Do thuốc như: Thuốc hạ áp, corticosteroid, NSAID...
- Bệnh về máu hay bệnh toàn thân...
II. CÁC BỆNH LƯ LƯỠI THƯỜNG GẶP:
A. Bất thường về giải phẫu lưỡi:
1. Chứng cứng lưỡi (Ankyloglossia): Là một sự phát triển bất thường và ít gặp của lưỡi. Đặc trưng của bệnh là cử động thè lưỡi ra hay đá lưỡi qua lại rất khó khăn. Bệnh làm cho vấn đề vệ sinh vùng miệng bị giới hạn nhưng hiếm khi gây rối loạn phát âm, có thể chỉ gây rối loạn nhẹ cho người bệnh. Cần phân biệt nguyên nhân cứng lưỡi này (do sự phát triển bất thường) với chứng cứng lưỡi do bị sẹo sau chấn thương lưỡi, dạng Pemphigus niêm mạc hay bóng nước tiêu hủy biểu b́ niêm mạc (mucosal epidermolysis bullosa). Điều trị bằng phẫu thuật chỉnh h́nh đơn giản khi cử động của lưỡi quá bị giới hạn.
2. Chứng nứt lưỡi (Fissured tongue): Nứt lưỡi thường xảy ra ở phần lưng của lưỡi và hay gặp ở những bệnh nhân bị hội chứng Down, hội chứng Melkerson - Rosenthal (sưng mặt, nứt lưỡi và liệt mặt), Sarcoidosis, bệnh Crohn và thường nhất là viêm lưỡi di trú (Erythema Migrans hoặc geographic tongue). Nứt lưỡi có thể không cần điều trị v́ chỉ gây khó chịu, có thể dùng Benzydamine hydrochloride 0,15% súc miệng hay xịt vào chỗ nứt.
3. Chứng nhú lưỡi to bất thường (prominent papillae): B́nh thường cấu trúc của niêm mạc lưng lưỡi lởm chởm, có 5-6 loại nhú: nhú dạng chỉ, nhú dạng nón, nhú dạng nấm, nhú dạng đài và nhú dạng lá. Trong đó nhú dạng đài nằm ở chỗ nối 2/3 trước và 1/3 sau của lưng lưỡi, c̣n nhú dạng lá nằm ở hướng sau bên. Những nhú này có thể to lên bất b́nh thường sau một chấn thương lưỡi nhưng không ảnh hưởng ǵ đến sức khỏe người bệnh.
4. Chứng lưỡi lớn (macroglossia): T́nh trạng này hiếm gặp và có thể là hậu quả của những sang thương bẩm sinh (u mạch, u mạch bạch huyết, bệnh u xơ thần kinh hay c̣n gọi là bệnh Von Recklinghausen), hội chứng Down, hội chứng Hurler, suy giáp hay đi kèm với chứng to đầu chi và chứng thoái hóa dạng tinh bột (amyloidosis).
Lưỡi có thể chỉ hơi lớn hay rất to không thể chứa hết trong miệng được. Nếu lưỡi to ra từng đợt cộng với sưng mô mềm th́ đây là đặc trưng của phù mạch thứ phát. Thoái hóa dạng tinh bột hiếm khi làm lưỡi to đồng đều mà thường biểu hiện là những nốt ở trên lưỡi. Lưỡi to do u mạch có biểu hiện là những sang thương tại chỗ hoặc lan rộng màu đỏ tía hay đỏ rực. C̣n u mạch bạch huyết trên lưỡi th́ có đặc trưng màu vàng và giống như trứng ếch.
Điều trị: Những sang thương do u mạch ít khi cần phải điều trị. Nếu lưỡi quá to, có thể dùng đến biện pháp phẫu thuật, làm tắc mạch hay làm xơ cứng mạch. Tiên lượng của thoái hóa dạng tinh bột thường nghèo nàn.
B. Nhiễm nấm:
1. Lưỡi mọc lông (black hairy tongue): Nh́n vào lưỡi có thể thấy những mảng đen hay nâu dày rất giống như lưỡi mọc lông, nhưng thật ra không phải như vậy mà là do những nhú dạng chỉ của lưỡi đen bất thường. Nó có thể xuất hiện sau khi dùng kháng sinh phổ rộng hay do vấn đề vệ sinh miệng kém. Căn nguyên chưa rơ nhưng cũng có những quan điểm cho rằng do nhiễm nấm tạo ra sắc tố như Aspergillus niger.
2. Nhiễm nấm Candida: Bề mặt niêm mạc lưỡi có thể bị ảnh hưởng do nhiễm Candida ở niêm mạc miệng. Những biểu hiện đặc trưng như: có màng giả mịn trên lưỡi có thể cậy ra được, teo niêm mạc (mucosal atrophy) hay teo nhú lưỡi (papillary atrophy). Tác nhân gây bệnh thường là Candida albicans và hay gặp ở những bệnh nhân bị tổn thương miễn dịch.
Xử trí: Dùng thuốc kháng nấm tại chỗ như Amphotericin B viên ngậm (lozenge), Nystatin dạng mỡ hoặc Miconazole dạng gel.
C. Nhiễm virus:
1. Nhiễm Herpes simplex: Viêm nướu răng và niêm mạc miệng nguyên phát do herpes thường xảy ra ở trẻ nhỏ với biểu hiện nướu bị sưng đỏ, có những bóng nước nhỏ mọc thành từng đám ở niêm mạc miệng và trên lưỡi. Những bóng nước này khi vỡ ra sẽ tạo thành những vết loét làm bệnh nhân rất đau.
Xử trí: Súc miệng bằng nước muối hay nước súc miệng, uống nhiều nước và dùng thuốc kháng virus Ancilovir có thể hữu ích cho bệnh nhân, đặc biệt là ở những người bị tổn thương miễn dịch.
2. Nhiễm Herpes zoster: Nhiễm Herpes zoster có thể ảnh hưởng tới bất kỳ nhánh nào của dây thần kinh sinh ba, do đó có thể ảnh hưởng đến lưỡi. Triệu chứng gồm có những bóng nước thường ở một bên, sau đó vỡ ra tạo thành những vết loét gây đau đớn. Xử trí giống như nhiễm Herpes simplex.
3. Bệnh tay, chân và miệng (Hand, foot and mouth disease): Do nhiễm Coxsackievirus. Ngoài những sang thương đặc trưng ở tay, chân, virus có thể gây ra những bóng nước hay những vết loét nhỏ do bóng nước vỡ ra ở trong miệng và trên lưỡi. Nhiễm trùng thường tự khỏi, nếu có điều trị chỉ là điều trị triệu chứng.
D. Chấn thương:
Lưỡi thường bị tổn thương khi bị chấn thương vùng miệng và mặt, nhất là ở trẻ em do tai nạn, răng quá sắc, do răng giả hay cắn phải trong khi nhai. Chấn thương có thể làm cho lưỡi bị rách ít hoặc phức tạp, gây chảy máu nhiều làm mất máu, hay trầm trọng hơn là gây bít tắc đường thở khiến bệnh nhân tử vong. Với những chấn thương nhỏ lặp đi lặp lại, có thể tạo ra những quầng trắng lơm lan tỏa hoặc đưa đến quá sản mô sợi tạo nên polyp biểu mô sợi.
Xử trí: Nếu vết rách chỉ chảy máu ít th́ thường sẽ tự lành, nếu không cầm máu được th́ cần đến bệnh viện để khâu lại. Nên đến bác sĩ chuyên khoa răng hàm mặt để được xử trí về vấn đề răng sắc và răng giả - là những nguyên nhân gây chấn thương. Với polyp, nếu kích thước quá lớn gây mất thẩm mỹ th́ có thể đến bệnh viện cắt bỏ đi.
E. Nguyên nhân miễn dịch
(Xem tiếp kỳ sau)





* Hosted for free by InvisionFree